MỘT SỐ LOẠI MA TÚY VÀ TÁC HẠI CỦA MA TÚY
.jpg)
Ban hành kèm theo Công văn số 1126/ĐHNN-CTSV ngày 22 tháng 10 năm 2026 của Hiệu trưởng Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế
I. MỘT SỐ KHÁI NIỆM
Điều 2 Luật Phòng, chống ma túy năm 2025 quy định:
Chất ma túy là chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong danh mục chất ma túy do Chính phủ ban hành.
Chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình trạng nghiện đối với người sử dụng.
Chất hướng thần là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện đối với người sử dụng.
Tiền chất là hóa chất thường được sử dụng trong quá trình điều chế, sản xuất chất ma túy được quy định trong danh mục tiền chất do Chính phủ ban hành.
Người sử dụng trái phép chất ma túy là người có hành vi sử dụng chất ma túy mà không được sự cho phép của người hoặc cơ quan chuyên môn có thẩm quyền và xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể có kết quả dương tính.
Người nghiện ma túy là người sử dụng chất ma túy, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần và bị lệ thuộc vào các chất này.
II. KIẾN THỨC CHUNG VÀ CÁC LOẠI MA TÚY THƯỜNG GẶP TẠI VIỆT NAM
1. Thuốc phiện (thuộc nhóm chất ma túy an thần)
Cây thuốc phiện có tên khoa học là Papaver somniferum L., còn được gọi là ả phù dung, a phiến, anh tử túc, anh túc... Đây là loại cây sống một năm hoặc hai năm, thân thẳng, cao khoảng 0,7-1,5 m, ít phân cành. Lá mọc so le; lá phía dưới có cuống ngắn, lá phía trên không cuống và ôm sát thân; phiến lá hình trứng dài, đầu nhọn, gốc hơi tròn hoặc hình tim, mép có răng cưa không đều. Hoa mọc đơn lẻ ở đầu cành hoặc ngọn thân, hình phễu, cuống dài, có màu trắng, hồng hoặc tím. Quả hình cầu hoặc hình trụ; khi còn non có màu xanh, khi chín chuyển vàng xám, đỉnh còn núm và mở bằng các lỗ nhỏ dưới đầu nhụy. Bên trong quả có nhiều hạt nhỏ màu xám, gần giống hình quả thận. Khi quả đã già nhưng chưa chín, người ta rạch các đường song song trên vỏ quả để lấy nhựa. Nhựa ban đầu có màu trắng đục như sữa, sau khi tiếp xúc không khí sẽ đặc dần và chuyển sang màu nâu, nâu đen rồi đen; được cạo lấy bằng dao nhỏ hoặc cật nứa, gọi là thuốc phiện tươi. Ở Việt Nam, cây thuốc phiện từng được trồng tại một số tỉnh miền núi phía Bắc như Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái, Nghệ An; tại Lâm Đồng cây sinh trưởng tốt nhưng chưa phát triển đại trà và chưa được khảo sát đầy đủ về chất lượng nhựa cũng như hàm lượng morphine.
Nhựa thuốc phiện (Opium), còn gọi là á phiện, là hợp chất tự nhiên thu được từ vỏ quả cây thuốc phiện đã già nhưng chưa chín, sau đó được sấy khô trong điều kiện bình thường. Nhựa có màu nâu hoặc nâu đen, mùi ngái đặc trưng, vị đắng, khó tan trong nước. Thành phần của nhựa thuốc phiện chứa hơn 40 loại ancaloit, trong đó năm chất cơ bản gồm morphine, codeine, narcotine, papaverine và thebaine; hàm lượng các chất này phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng, thời vụ và độ tuổi cây. Nhựa thuốc phiện tồn tại dưới các dạng như thuốc phiện sống, thuốc phiện chín, xái thuốc phiện và thuốc phiện y tế.
Tác hại: Việc sử dụng thuốc phiện gây cảm giác êm dịu, đê mê, sảng khoái kéo dài khoảng 3-6 giờ; tuy nhiên khi lệ thuộc sẽ dẫn đến suy sụp sức khỏe, da xám, chán ăn, rối loạn tiêu hóa, cơ thể gầy yếu, đi đứng không vững và luôn trong trạng thái thèm thuốc. Nếu không được đáp ứng, người nghiện có thể lên cơn vật vã, thậm chí tử vong do suy tim mạch và kiệt sức. Lúc đầu hút vào thấy có sự khoái lạc, tạo cảm giác hưng phấn, làm giảm đau nhức, mệt mỏi. Nhưng càng hút thì càng ngày càng phải tăng liều mới đạt được cảm giác như lần trước. Dần dần người hút bị suy sụp, mất hết nghị lực, ý chí và cả cảm giác không còn. Hơn thế nữa, ở người sử dụng thuốc phiện còn xuất hiện các biến chứng như: viêm dạ dày, viêm ruột mãn tính, táo bón dai dẳng, phát ban ngoài da, thường xuyên bị viêm phổi, mạch đập chậm và không đều.
2. Heroine (thuộc nhóm chất ma túy an thần)
Heroin có tên khoa học là diacetylmorphine (diaxetyl morphine), còn được gọi bằng nhiều tên khác như bạch phiến, axetomorphine, hammer, scag, smack, junk, horse. Ở dạng tinh khiết, heroin tồn tại dưới dạng tinh thể màu trắng; khi lẫn tạp chất có thể chuyển sang màu trắng đục hoặc xám. Heroin có vị đắng và dễ bị phân hủy trong môi trường kiềm. Trên thị trường bất hợp pháp, heroin thường được sản xuất và phân phối dưới dạng bột mịn hoặc đóng bánh hình chữ nhật, trọng lượng khoảng 350-360g; bên ngoài có thể in các ký hiệu như hai con sư tử chầu quả cầu, “9999”, ba ngôi sao... nhằm đánh dấu nguồn gốc hoặc phân biệt lô hàng.
Tác hại: Heroin là chất giảm đau rất mạnh nhưng có độc tính và mức độ nguy hiểm cao. Chỉ với liều rất nhỏ đã có thể tạo cảm giác hưng phấn, khoái cảm mạnh. Người sử dụng thường cảm thấy tự tin thái quá, tăng hoạt động, giảm cảm giác xấu hổ, dễ rơi vào trạng thái mơ tưởng. Heroin có khả năng gây lệ thuộc rất nhanh, thậm chí sau vài lần sử dụng; người nghiện suy sụp nhanh cả về thể chất lẫn tinh thần. Quá liều heroin có thể gây ức chế hô hấp, hôn mê và tử vong; độc tính của heroin được đánh giá cao hơn nhiều lần so với morphine.
3. Cần sa (thuộc nhóm chất ma túy gây ảo giác)
Cần sa có tên khoa học là Cannabis sativa L., còn được gọi bằng nhiều tên khác như gai dầu, lanh mèo, gai mèo, đại ma, lanh mán, hỏa ma, bồ đà. Đây là cây thân thảo sống một năm, cao khoảng 2-3 m, thân thẳng, có rãnh dọc và tiết diện gần vuông. Lá xẻ từ 5-7 thùy hình chân vịt, mép có răng cưa rõ; lá phía dưới thường mọc đối, cuống dài, còn lá phía trên mọc so le, cuống ngắn và có lá kèm. Hoa cần sa là hoa đơn tính, mọc riêng gốc; hoa đực thường mọc rủ xuống, hoa cái mọc thành bông, màu xanh nhạt. Hạt hình cầu, khi nghiền có mùi thơm đặc trưng, bên trong có nhân dẹt và nội nhũ.
Cần sa được trồng bằng hạt; khi gieo cần làm đất tơi xốp, bảo vệ hạt khỏi côn trùng (như kiến) rồi ươm cây con trước khi trồng đại trà. Sau khoảng 3-4 tháng cây bắt đầu ra hoa; có cây đực và cây cái riêng biệt. Trong thực tế canh tác, người ta có thể chủ động thụ phấn để tăng năng suất hạt. Hoa cái thường được thu hái khi trưởng thành vì chứa nhiều hoạt chất sinh học có tác động mạnh lên hệ thần kinh trung ương và có khả năng gây lệ thuộc. Hàm lượng các hoạt chất này thay đổi tùy theo giống cây, điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng và kỹ thuật trồng trọt.
Cần sa tồn tại dưới các dạng sau:
Cần sa thảo mộc: Bao gồm có lá, hoa và quả. Những người sản xuất cần sa thu hoạch ba bộ phận trên của cây cần sa đem phơi khô, ép thành từng bánh giống bánh thuốc lào, rồi đưa ra bán ở thị trường. Một số người cuộn thành điếu, giống điếu thuốc lá, mỗi điếu nặng từ 2 - 4g rồi mang cho người nghiện để hút.
Nhựa cần sa: Nhựa cần sa được chiết từ tất cả các bộ phận của cây cần sa bao gồm: Lá, rễ, thân, vỏ, hoa, quả đều chiết xuất trên máy ép. Nhựa cần sa thu được có màu đen sẫm giống như thuốc phiện. Nhựa cần sa thường có nồng độ các chất gây nghiện cao gấp 8 - 10 lần so với cần sa thảo mộc. Nhựa cần sa được đưa vào khuôn, đóng thành từng bánh, đóng nhãn hiệu, trọng lượng mỗi bánh nặng 0,5 hoặc 1 kg, rồi đưa ra thị trường tiêu thụ.
Tinh dầu cần sa: Tinh dầu cần sa có màu sẫm, mùi hắc đặc trưng, được chiết xuất từ cần sa thảo mộc hoặc nhựa cần sa bằng các dung môi hữu cơ như methanol, ethanol, axeton... Hàm lượng hoạt chất hướng thần trong tinh dầu rất cao, độc tính được đánh giá mạnh hơn nhiều so với nhựa cần sa.
Tác hại: Cần sa gây ra hàng loạt các thay đổi về tâm lý và cư xử ở người sử dụng, thường tạo ra những khoái cảm, hưng phấn, nói nhiều. Tuy nhiên, các cơ quan cảm giác như thị giác, thính giác, vị giác, xúc giác bị kích thích mạnh dẫn đến ảo giác, trí nhớ lẫn lộn, không phân biệt được quá khứ, hiện tại, tương lai, tư tưởng bất an, cảm xúc bất thường, đôi khi rất hung dữ. Khi sử dụng cần sa, người dùng có thể xuất hiện ảo giác và rối loạn cảm nhận: màu sắc trở nên rực rỡ bất thường, hình ảnh sự vật bị phóng đại hoặc méo mó; có thể kèm theo những cơn ác mộng, cảm giác sợ hãi hoặc hoang tưởng. Sau giai đoạn hưng phấn và ảo giác thường là trạng thái mệt mỏi, buồn ngủ, ngủ chập chờn. Người sử dụng kéo dài dễ gầy yếu, suy nhược, giảm động lực, rối loạn tâm thần và lệ thuộc tâm lý.
4. Lysergide (LSD) hay còn gọi là Bùa lưỡi, tem thư, kẹo dán,... (thuộc nhóm chất ma túy gây ảo giác)
Lysergide (LSD) có tên khoa học là 9,10-dihydro-N,N-diethyl-6-methylergoline-8β-carboxamide; còn được gọi là LSD, LSD-25, Delysid, Lysergic acid diethylamide. LSD thường tồn tại dưới dạng tinh thể màu trắng, có thể hòa tan trong nước và một số dung môi hữu cơ như cồn metylic. Trên thị trường bất hợp pháp, LSD hiếm khi được lưu hành ở dạng bột tinh khiết mà thường được tẩm vào các chất mang như giấy thấm (blotter paper), viên đường, bông, giấy lọc hoặc chứa trong viên nang gelatin. Phổ biến nhất là dạng giấy nhỏ in hình màu sắc bắt mắt (kích thước khoảng 1,5 x 1,5 cm), mỗi miếng chứa hàm lượng rất nhỏ, thường từ 20-50 microgam; người sử dụng đặt lên lưỡi để thuốc thấm qua niêm mạc miệng.
Tác hại: LSD là chất gây ảo giác cực mạnh, chỉ với liều rất thấp (khoảng vài chục microgam) đã có thể làm thay đổi sâu sắc nhận thức, cảm xúc và hành vi. Người sử dụng có thể xuất hiện ảo giác thị giác, thính giác, rối loạn cảm nhận về không gian - thời gian, hoang tưởng hoặc hành vi mất kiểm soát. Do tác động mạnh đến hệ thần kinh trung ương, LSD tiềm ẩn nhiều nguy cơ, đặc biệt là tai nạn do hành vi bột phát trong trạng thái hoang tưởng. Mặc dù từng được nghiên cứu trong một số ứng dụng y học tâm thần, LSD hiện được xếp vào nhóm chất gây ảo giác nguy hiểm, có khả năng gây rối loạn tâm thần kéo dài và hậu quả nghiêm trọng đối với sức khỏe người sử dụng.
5. Cỏ Mỹ (XLR-11) (thuộc nhóm chất ma túy gây ảo giác)
Tên khoa học: 1-(5-fluoropentyl)-1H-Indol-3-yl). Tên gọi khác: 5-Fluoro-UR-144. Cỏ Mỹ được phát hiện lần đầu tiên ở California năm 1979. Hoạt chất chính trong cỏ Mỹ là chất XLR-11. Thực chất cỏ Mỹ là một loại hỗn hợp các thảo mộc khô được pha tẩm với chất thơm và một số chất gây nghiện, gây ảo giác giống như cần sa. Cỏ Mỹ được đóng gói dưới dạng các gói thực vật khô, cắt nhỏ, tẩm mùi thơm đặc trưng với các nhãn hiệu ghi trên bao bì là K2/spice, Moon Rock... Cỏ Mỹ được dùng để hút, có nơi còn dùng để trộn vào đồ ăn hoặc thức uống.
Tác hại: Cỏ Mỹ là một trong những chất ma túy gây ảo giác với nhiều mức độ khác nhau. Khi sử dụng cỏ Mỹ người sử dụng liên tục buồn ngủ, đau đầu tới tăng nhịp tim, toát mồ hôi, mắt đỏ, chảy nước mắt mất khả năng điều khiển vận động hoặc bất tỉnh. Nhưng chỉ sau 1, 2 tháng sử dụng cỏ Mỹ người sử dụng sẽ bị lở, ngứa, do trong cỏ Mỹ có chất tàn phá các chức năng gan thận, sử dụng cỏ Mỹ thường xuyên dẫn đến hậu quả nguy hại cho sức khỏe.
Cỏ Mỹ có khả năng gây nghiện rất cao và rất độc hại đối với sức khỏe của con người. Cỏ Mỹ có thể dẫn tới những tác động lớn đối với sức khỏe, đặc biệt là hoạt động của não bộ và cả tính mạng của con người: Khiến cho cơ thể có cảm giác thư giãn, hưng phấn, thoải mái trong thời gian sử dụng, từ đó, người dùng lầm tưởng rằng sức khỏe tinh thần được cải thiện; nhận thức và hành vi đối với môi trường cũng như các hiện tượng, sự vật xung quanh bị thay đổi; có thể xuất hiện các triệu chứng loạn thần, suy nghĩ tách rời thực tế; lơ mơ, sợ hãi hoặc lo lắng thái quá; hoang tưởng và mất lòng tin tới mức cực đoan, vô lý, từ đó, xuất hiện các hành vi mang tính bạo lực; xuất hiện ảo giác, nhìn thấy các hình ảnh đang diễn ra trong đời sống thực tại mặc dù chúng không tồn tại,...
6. Ketamine (thuộc nhóm chất ma túy gây ảo giác)
Ketamine có tên khoa học là 2-(2-chlorophenyl)-2-methylaminocyclohexanone, còn được biết đến với các tên gọi như Special K, “sinh tố K”, Ke... Trong y học, ketamine là thuốc gây mê phân ly, được sử dụng cho người và thú y. Chất này tồn tại dưới dạng bột tinh thể màu trắng, dung dịch lỏng hoặc viên nang; ở dạng muối hydroclorid, ketamine tan trong nước và rượu. Trong môi trường sử dụng trái phép, ketamine có thể bị lạm dụng riêng lẻ hoặc kết hợp với các chất kích thích khác như MDMA (thuốc lắc), cocaine, thậm chí trộn với cần sa để tăng tác động hướng thần.
Tác hại: Khi tiêm tĩnh mạch trong điều kiện y khoa, ketamine có thể gây mê nhanh, tạo trạng thái phân ly và mất ý thức. Tuy nhiên, nếu sử dụng không đúng chỉ định, ketamine có thể gây tăng huyết áp, nhịp tim nhanh, rối loạn thị giác (nhìn đôi), buồn nôn, tăng trương lực cơ, ảo giác, kích động hoặc mê sảng. Người dùng có thể rơi vào trạng thái mất cảm giác đau, rối loạn tri giác, suy giảm trí nhớ, khó kiểm soát hành vi; liều cao có thể gây rối loạn vận động, ức chế hô hấp, co thắt thanh quản, tắc đường thở và nguy cơ ngừng thở dẫn đến tử vong. Việc lạm dụng kéo dài có thể dẫn đến lệ thuộc tâm lý, đặc biệt ở thanh thiếu niên, do xu hướng tìm kiếm cảm giác mạnh hoặc né tránh căng thẳng trong cuộc sống.
7. Cocaine (Nhóm các chất ma túy gây kích thích)
Cocaine là hoạt chất được chiết xuất từ lá cây côca (Erythroxylum coca), loài cây có nguồn gốc Nam Mỹ, tập trung chủ yếu tại Bolivia và Peru. Trong điều kiện tự nhiên, cây có thể cao đến 6 m, nhưng tại các đồn điền thường được khống chế ở mức 1-1,5 m để thuận tiện thu hoạch. Mỗi cây có thể cho thu hoạch lá trong nhiều năm, mỗi năm hái nhiều đợt; năng suất trung bình khoảng 300-400 kg lá khô/ha cho mỗi lần thu hoạch. Trong lá côca có hơn 40 ancaloit, trong đó cocaine chiếm khoảng 0,3-1% và là hoạt chất có tác dụng sinh học mạnh nhất. Ngoài cocaine còn có các chất liên quan như methylecgonine, ecgonine, benzoylecgonine... Từ lá côca, người ta chiết xuất ancaloit toàn phần, thủy phân để thu ecgonine rồi bán tổng hợp thành cocaine. Cocaine (benzoylmethylecgonine) tồn tại ở nhiều dạng: bột nhão côca (sản phẩm trung gian), cocaine hydroclorid (bột kết tinh trắng, tan trong nước), cocaine bazo (dạng tự do, thường dùng để hút) và crack (dạng tinh thể nhỏ thu được khi xử lý cocaine hydroclorid với chất kiềm).
Tác hại: Cocaine là chất kích thích mạnh hệ thần kinh trung ương, gây cảm giác hưng phấn, khoái cảm, tăng hoạt động, nhưng sau đó có thể dẫn đến trạng thái suy sụp, ức chế. Việc sử dụng kéo dài gây rối loạn hệ thần kinh, tim mạch, hô hấp và tiêu hóa; hít thường xuyên có thể làm tổn thương, thậm chí thủng vách ngăn mũi. Người lạm dụng có thể dùng bằng cách hít, hút, tiêm tĩnh mạch hoặc bôi lên niêm mạc; trong đó tiêm tĩnh mạch tạo tác dụng nhanh và mạnh hơn nhưng nguy cơ cao hơn. Quá liều có thể gây ảo giác, co giật, rối loạn nhịp tim, liệt hô hấp và tử vong. Do độc tính cao và khả năng gây nghiện mạnh, cocaine được xếp vào nhóm chất ma túy đặc biệt nguy hiểm.
8. Các chất tổng hợp ATS (Nhóm các chất ma túy gây kích thích)
8.1. Ma túy đá (Methamphetamine)
Methamphetamine có tên khoa học là (+)-(S)-N,α-dimethylphenethylamine, còn được biết đến với nhiều tên gọi khác như desoxyephedrine, meth, ice, crystal, rock... Ở dạng bazo, methamphetamine là chất lỏng không màu, bay hơi chậm, ít tan trong nước nhưng tan tốt trong các dung môi hữu cơ; khi để lâu ngoài không khí có thể bị oxy hóa và ngả vàng. Trong thực tế, chất này thường gặp ở dạng muối hydroclorid - tinh thể trắng hoặc không màu, tan tốt trong nước. Dạng tinh khiết có thể kết tinh trong suốt, lấp lánh như “đá”, vì vậy ở một số nước còn gọi là “ice” hoặc "crystal meth”. Trên thị trường bất hợp pháp, methamphetamine thường xuất hiện dưới dạng tinh thể, bột, viên nén nhiều màu (đỏ cam, hồng, xanh...) có ký hiệu như WY, 99, chữ M hoặc hình sao; ngoài ra còn có dạng viên nang hay dung dịch tiêm.
Tác hại: Methamphetamine là chất kích thích rất mạnh hệ thần kinh trung ương, làm tăng giải phóng dopamine trong não, tạo cảm giác hưng phấn, tự tin, tràn đầy năng lượng và khoái cảm. Tuy nhiên, việc kích thích quá mức này nhanh chóng dẫn đến rối loạn tập trung, kích động, hành vi bạo lực và hoang tưởng. Người sử dụng có thể mất ngủ kéo dài, chán ăn, sút cân nhanh, không cảm thấy mệt mỏi trong nhiều ngày liền. Khi ngừng sử dụng, do não suy giảm khả năng tự điều hòa dopamine, người dùng dễ rơi vào trạng thái trầm cảm, lo âu, mệt mỏi và lệ thuộc mạnh vào chất này. Lạm dụng kéo dài gây tổn thương não, rối loạn tâm thần, rối loạn tim mạch; liều cao có thể gây ngộ độc, co giật, hôn mê và đột tử.
8.2. Thuốc lắc (Ecstasy)
Ecstasy, thường gọi là “thuốc lắc”, có tên khoa học là 3,4-methylenedioxymethamphetamine (MDMA). Trên thị trường bất hợp pháp, MDMA chủ yếu được bào chế dưới dạng viên nén hoặc viên nang với hàm lượng khác nhau (thường khoảng 60-120 mg), nhiều màu sắc sặc sỡ và in các logo như hình trái tim, chim bồ câu, bướm, chữ “Love”... nhằm thu hút người sử dụng. MDMA là chất kích thích và gây biến đổi cảm xúc, có tác dụng làm tăng cảm giác hưng phấn, thân thiện, gần gũi, tăng hoạt động thể lực và giảm cảm giác mệt mỏi.
Tác hại: Chất này đồng thời có thể gây tăng huyết áp, tăng nhịp tim, rối loạn nhận thức, méo mó cảm giác về không gian - thời gian và trong một số trường hợp gây ảo giác, kích động hoặc hành vi mất kiểm soát. Khi hết tác dụng, người dùng thường rơi vào trạng thái mệt mỏi, suy sụp tinh thần, lo âu, trầm cảm. Việc sử dụng liều cao hoặc lạm dụng MDMA có thể gây rối loạn điều hòa thân nhiệt, làm tăng nhiệt độ cơ thể đột ngột, dẫn đến nguy cơ suy gan, suy thận, rối loạn tim mạch và các biến chứng nghiêm trọng khác. MDMA làm tăng phóng thích các chất dẫn truyền thần kinh như serotonin, dopamine và norepinephrine, vì vậy có thể gây rối loạn tâm lý kéo dài như mất ngủ, lo âu, hoang tưởng, suy giảm trí nhớ và giảm khả năng điều hòa cảm xúc. Tác động lên hệ tim mạch có thể dẫn đến rối loạn nhịp tim, co thắt mạch vành, thậm chí nhồi máu cơ tim.
Ngoài ra, viên “thuốc lắc” lưu hành trái phép thường không chỉ chứa MDMA mà có thể pha trộn nhiều chất khác như methamphetamine, ketamine, caffeine hoặc các chất kích thích khác, làm tăng đáng kể nguy cơ ngộ độc và tử vong, đặc biệt khi sử dụng đồng thời với rượu, bia hoặc các chất hướng thần khác.
8.3. Hồng phiến (Amphetamine)
Amphetamine có tên khoa học là 2-amino-1-phenylpropane, còn được biết đến với nhiều tên gọi khác như Amphetamin, Actedron, Adipan, Mecodrin, Panrinol, Sympamin, Desoxyn... (trên thực tế có hàng trăm tên thương mại khác nhau). Ở dạng bazo, amphetamine là chất lỏng không màu, bay hơi chậm, có thể hấp thụ $CO_2$ trong không khí tạo thành muối carbonat; nhiệt độ sôi khoảng 200-$203^{\circ}C$, ít tan trong nước nhưng tan tốt trong cồn và nhiều dung môi hữu cơ, tan hoàn toàn trong môi trường axit. Trên thị trường bất hợp pháp, amphetamine thường được bào chế dưới dạng viên nén hoặc viên nang với nhiều màu sắc khác nhau; tuy nhiên, các tên như Maxiton hay Seconal thực chất là tên thương mại của các dược phẩm khác và có thể bị lợi dụng để ngụy trang.
Tác hại: Amphetamine là chất kích thích hệ thần kinh trung ương, làm tăng tỉnh táo, giảm cảm giác mệt mỏi và buồn ngủ, tăng nhịp tim và huyết áp. Ở liều cao, amphetamine có thể gây kích động mạnh, hoang tưởng và ảo giác; so với methamphetamine hoặc MDMA, tác dụng gây ảo giác thường kém rõ hơn nhưng vẫn tiềm ẩn nguy cơ rối loạn tâm thần. Việc lạm dụng kéo dài có thể dẫn đến suy dinh dưỡng, rối loạn giấc ngủ, tăng huyết áp, lệ thuộc tâm lý và các biểu hiện loạn thần; quá liều có thể gây rối loạn nhịp tim, co giật, đột quỵ hoặc tử vong do ngộ độc.
9. Một số loại ma túy “núp bóng”, “trá hình”
Ngoài những loại ma túy cơ bản trên, để tránh sự kiểm soát của lực lượng chức năng cũng như đáp ứng nhu cầu về sản phẩm mới của người sử dụng ma túy, tội phạm ma túy sản xuất ra một số ma túy núp bóng dưới dạng các loại thực phẩm, đồ ăn, thức uống thông thường như:
9.1. Ma túy trà trộn trong Trà sữa: Ma túy "Trà sữa" là một loại hỗn hợp chứa nhiều loại ma túy tổng hợp. Thành phần chủ yếu của trà sữa vẫn là Amphetamine và Methamphetamine (ma túy đá), trộn cùng các loại hương liệu để có mùi “trà sữa".
9.2. "Nước vui": "Nước vui" có xuất xứ từ Trung Quốc, thành phần gồm một số ma túy tổng hợp phổ biến hiện nay, trong đó có thành phần methamphetamine, ketamine... Khi vào cơ thể, loại ma túy này sẽ tạo cho người sử dụng cảm giác hưng phấn, vui vẻ kéo dài, đặc biệt khi kết hợp với nghe nhạc mạnh.
9.3. Cần sa có trong bánh lười, kẹo dẻo, kẹo mút...:
“Bánh lười” là chiếc bánh ngọt có tẩm cần sa. Bánh có mùi thơm của chocolate, vị ngọt của nho... Do có tinh chất cần sa nên khi ăn, chất ma túy sẽ ngấm nhanh vào máu khiến cho người sử dụng có cảm giác “phê”, hưng phấn, ảo giác.
Các loại kẹo mút cần sa xuất hiện trên mạng xã hội và được quảng cáo là "đồ ăn lạ". Chocolate chứa tinh dầu, hạt cần sa. Các sản phẩm chủ yếu là hàng từ nước ngoài, được mang về Việt Nam và rao bán.
9.4. Ma túy trong thuốc lá điện tử: Thuốc lá điện tử (Electronic Nicotine Delivery Systems – ENDS), còn được gọi tên khác như E-cigarette hay Vape, là thiết bị điện tử cầm tay, sử dụng pin để làm nóng dung dịch điện tử có chứa nicotine và các chất hóa học khác, tạo ra các hạt khí dung (còn gọi là aerosol hay sol khí) cho người dùng hít vào.
9.5. GHB (Ma túy “nước biển” hay "Vitamin G"): GHB (Gamma-hydroxybutyric acid) là một hợp chất có nhiều tên gọi khác nhau
| THÔNG TIN LIÊN HỆ |
| Phòng Công tác sinh viên, Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế |
|
|
Thầy Phạm Trung |
|
0901901797 |
|
|
0901901797 |
|
|
ptrung@huflis.edu.vn |
|
|
Tầng 1, tòa nhà Hiệu bộ |
|
|
57 Nguyễn Khoa Chiêm, An Cựu, Huế, Việt Nam |
Tin liên quan
- TUYÊN TRUYỀN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG MA TÚY NĂM HỌC 2026-2027 (22/10/2026)
- TÀI LIỆU TẬP HUẤN KỸ NĂNG PHÒNG, CHỐNG MA TÚY NĂM HỌC 2026-2027 (21/10/2026)
- CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ PHÁP LUẬT CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG MA TÚY (21/10/2026)
- TÀI LIỆU TẬP HUẤN PHÒNG TRÁNH LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN BẰNG THỦ ĐOẠN "BẮT CÓC ONLINE" (09/10/2026)
- CUỘC THI TRẮC NGHIỆM TRỰC TUYẾN TÌM HIỂU PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG MA TÚY (08/10/2026)





.jpg)
