Thứ tư, 21/10/2026
75

CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ PHÁP LUẬT CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG MA TÚY

Ban hành kèm theo Công văn số 1126/ĐHNN-CTSV ngày 22 tháng 10 năm 2026 của Hiệu trưởng Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế
 

I. CHỦ TRƯƠNG, ĐƯỜNG LỐI, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG
1. Đường lối, chính sách về an sinh xã hội

Bảo đảm an sinh xã hội là chủ trương nhất quán, xuyên suốt của Đảng từ khi thành lập và trong suốt chiều dài lịch sử lãnh đạo đất nước. Ngay từ khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Đảng và Chính phủ ta đã coi nhiệm vụ diệt “giặc đói”, “giặc dốt” là một trong những nhiệm vụ quan trọng. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn có mong ước nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành.
Thực hiện an sinh xã hội được xác định là nhiệm vụ có vai trò quan trọng đối với sự phát triển cũng như tiến bộ và công bằng xã hội. Làm tốt nhiệm vụ này sẽ góp phần bảo đảm nhu cầu và nguyện vọng chính đáng của người dân, tạo động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, góp phần ổn định và cải thiện đời sống Nhân dân, tạo đồng thuận xã hội và đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế.
Trong 40 năm đổi mới, mặc dù đất nước còn gặp nhiều khó khăn, nhưng Đảng luôn đặc biệt quan tâm lãnh đạo thực hiện chính sách an sinh xã hội. Nhận thức, quan điểm lãnh đạo chính sách an sinh xã hội đã được hoàn thiện qua từng kỳ đại hội của Đảng. Trong đó luôn gắn chính sách xã hội, bảo đảm an sinh xã hội với phát triển kinh tế, xuất phát từ lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò chủ động của nhân dân.
Về an sinh xã hội, Đại hội XIII khẳng định: “an sinh xã hội cơ bản được bảo đảm”, “chính sách an sinh xã hội được tiếp tục bổ sung, hoàn thiện trên các lĩnh vực lao động, việc làm, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, người có công và bảo trợ xã hội”. Trong tình hình mới, yêu cầu tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với chính sách an sinh xã hội ngày càng tăng lên. Kinh tế đất nước đang trong thời kỳ quá độ xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, còn tồn tại nhiều nguy cơ gây rủi ro như thiếu việc làm, thất nghiệp. Bên cạnh đó, do điều kiện thời tiết và biến đổi khí hậu, hằng năm nước ta phải hứng chịu nhiều trận bão, lũ, hạn hán, tác động bất lợi đối với cuộc sống sinh hoạt, sản xuất của người dân. Ô nhiễm môi trường, thực phẩm bẩn làm ảnh hưởng đến sức khoẻ con người và tăng nguy cơ mắc các bệnh hiểm nghèo; vì thế cần có cơ chế, chính sách phòng ngừa, giảm thiểu, khắc phục. Các nhóm đối tượng an sinh xã hội sẽ ngày càng đa dạng, đòi hỏi phải có hệ thống đa tầng, đa lớp, linh hoạt và đủ khả năng thực hiện những mục tiêu an sinh xã hội. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với chính sách an sinh xã hội nhằm ổn định đời sống người lao động, bảo đảm an toàn, ổn định cho nền kinh tế - xã hội, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội là yêu cầu cấp thiết.
2. Chủ trương về phòng chống tệ nạn xã hội
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng khẳng định “Tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tội phạm và tệ nạn xã hội; Đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tệ nạn xã hội, bảo đảm an toàn giao thông, an toàn thực phẩm và thuốc chữa bệnh”; “Kiên quyết xử lý nghiêm theo pháp luật các tệ nạn xã hội, các hành vi bạo lực, mua bán, xâm hại phụ nữ, trẻ em".
Tệ nạn xã hội đã và đang gây tác hại nhiều mặt đến đời sống kinh tế-xã hội của đất nước, ảnh hưởng tiêu cực tới nét đẹp văn hóa, sức khỏe của nhân dân, gây mất an ninh, trật tự xã hội. Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta đã và đang có nhiều chủ trương, chính sách và biện pháp ngăn chặn nhằm xóa bỏ các tệ nạn xã hội, bảo đảm cho mỗi người dân, mỗi gia đình có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Mặc dù công tác phòng, chống các tệ nạn xã hội đã được tổ chức thực hiện rất quyết liệt bằng nhiều giải pháp, với sự nỗ lực của toàn xã hội, nhưng tệ nạn xã hội vẫn có xu hướng gia tăng, đặc biệt là nạn buôn bán ma túy, nghiện hút ma túy. Tình hình trên có nguyên nhân khách quan là do áp lực gia tăng của tội phạm trên thế giới và khu vực. Song, chủ yếu là do nguyên nhân chủ quan. Ở nhiều nơi, cấp ủy, chính quyền địa phương chưa quan tâm đúng tầm mức, thiếu sâu sát, kiên quyết trong lãnh đạo, chỉ đạo, công tác quản lý nhà nước. Cơ quan tham mưu về lĩnh vực này hoạt động chưa thật chủ động và hiệu quả. Hệ thống pháp luật về phòng, chống tệ nạn xã hội chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đề ra. Do đó, yêu cầu bức thiết cần phải nhìn nhận, đánh giá những thuận lợi, thời cơ, khó khăn thách thức trong công tác phòng chống tệ nạn xã hội; đồng thời, thực hiện đồng bộ các giải pháp phòng, chống tệ nạn xã hội trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
3. Chính sách về phòng, chống ma túy
Văn kiện Đại hội XIII nhấn mạnh: “Thực hiện đồng bộ các giải pháp phòng, chống tệ nạn xã hội, kiểm soát ma túy, mại dâm; tăng cường công tác phòng ngừa, đẩy mạnh cai nghiện tự nguyện, giảm cai nghiện bắt buộc; hỗ trợ người sau cai nghiện, mại dâm, nạn nhân bị buôn bán trở về hòa nhập cộng đồng”. Chủ động, kịp thời cung cấp thông tin thiết yếu và tiếp nhận thông tin phản ánh của người dân trong đấu tranh phòng, chống suy thoái đạo đức, lối sống, các thông tin về tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tệ nạn xã hội; đồng thời, “phát huy giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo vào giữ gìn và nâng cao đạo đức truyền thống xã hội, xây dựng đời sống văn hóa ở các khu dân cư, góp phần ngăn chặn, đẩy lùi các tệ nạn xã hội”.
Kết luận 132-KL/TW ngày 18/3/2025 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 36-CT/TW, ngày 16/8/2019 của Bộ Chính trị về tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy nêu rõ: Qua 5 năm thực hiện Chỉ thị số 36-CT/TW, ngày 16/8/2019 của Bộ Chính trị về tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống và kiểm soát ma tuý, công tác phòng, chống và kiểm soát ma tuý đã có nhiều chuyển biến tích cực. Các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể các cấp đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện, huy động được đông đảo cán bộ, đảng viên và Nhân dân tích cực tham gia...
Tuy nhiên, tình hình tội phạm ma tuý vẫn còn diễn biến hết sức phức tạp, nhất là trên tuyến biên giới đường bộ, đường biển, đường hàng không, trên không gian mạng... Các nguy cơ phát sinh "nguồn cầu" ma túy chưa được giải quyết triệt để; chưa chặn đứng được mối quan hệ "cung - cầu" về ma tuý. Công tác rà soát, thống kê số người nghiện, người sử dụng trái phép chất ma tuý còn chưa chính xác; công tác quản lý chưa kịp thời, chặt chẽ, nhiều trường hợp bị rối loạn tâm thần, "ngáo đá" gây ra các vụ trọng án với tính chất dã man, vô nhân tính, gây bức xúc dư luận; công tác cai nghiện, hỗ trợ học nghề, tạo việc làm cho người sau cai nghiện hiệu quả chưa cao. Công tác quản lý ngành, nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự có lúc, có nơi còn sơ hở, tiềm ẩn nguy cơ phát sinh tội phạm và tệ nạn ma tuý...
Dự báo tình hình tội phạm, tệ nạn ma tuý tiếp tục diễn biến phức tạp dẫn đến nguy cơ gia tăng người nghiện, người sử dụng trái phép chất ma túy, gây hệ lụy nghiêm trọng đối với sức khỏe, giống nòi, chất lượng lực lượng lao động; làm gia tăng các loại tội phạm, tệ nạn xã hội và các hành vi vi phạm pháp luật, gây mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội... Bộ Chính trị yêu cầu cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức đoàn thể các cấp tiếp tục đẩy mạnh thực hiện nghiêm túc, quyết liệt hơn các nội dung, nhiệm vụ trong Chỉ thị số 36-CT/TW, trong đó đối với công tác “giảm cầu” cần tập trung thực hiện các giải pháp như:
Tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, vai trò nòng cốt của các lực lượng chuyên trách và sự tham gia tích cực của đông đảo Nhân dân trong phòng, chống và kiểm soát ma tuý; thực hiện phương châm ngăn cung, giảm cầu, giảm tác hại của ma tuý, trong đó tập trung các giải pháp giảm cầu hiệu quả; lấy phòng ngừa là chính, địa bàn cơ sở, khu dân cư làm trọng tâm để triển khai tổ chức thực hiện.
Nâng cao ý thức toàn dân trong phòng, chống và kiểm soát ma tuý. Kiên trì xây dựng văn hóa bài trừ ma tuý trong toàn xã hội; từng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải đăng ký chỉ tiêu xây dựng đơn vị hành chính cấp xã "không ma tuý" theo lộ trình thực hiện hằng năm, bảo đảm đến hết năm 2030 có ít nhất 50% đơn vị hành chính cấp xã trên toàn quốc "không ma tuý" và từng bước đẩy lùi ma tuý ra khỏi đời sống xã hội.
Tổ chức tổng rà soát người nghiện ma tuý, người sử dụng trái phép chất ma tuý để đánh giá đúng thực trạng tình hình, có biện pháp quản lý chặt chẽ. Tập trung đưa tối đa số người nghiện đủ điều kiện theo quy định pháp luật và số người nghiện có nguy cơ phạm tội, vi phạm pháp luật cao đi cai nghiện bắt buộc; kết hợp triển khai đồng bộ các biện pháp ngăn chặn phát sinh người sử dụng ma tuý và người nghiện ma tuý mới. Đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện, bảo đảm triển khai hiệu quả công tác xác định tình trạng nghiện, công tác cai nghiện và điều trị nghiện ma túy; xây dựng các cơ sở cai nghiện ma tuý chất lượng cao, ứng dụng khoa học và công nghệ hiện đại trong quản lý, điều trị; hỗ trợ vốn, đào tạo, tạo việc làm, xoá bỏ mặc cảm cho người sau cai nghiện ma tuý hoà nhập cộng đồng, phòng ngừa tái nghiện. Khẩn trương nghiên cứu, đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác cai nghiện. Đẩy mạnh nghiên cứu, triển khai các phương pháp y học, kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại trong điều trị và phục hồi chức năng cho người nghiện ma tuý, nhất là ma tuý tổng hợp.
4. Chính sách tái hòa nhập cộng đồng
Căn cứ theo Điều 86 Nghị định 163/2026/NĐ-CP quy định về chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng; Thông tư số 79/2026/TT-BCA của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về khung danh mục vị trí việc làm, điều kiện nhân sự, quy trình cai nghiện ma túy và chế độ của người cai nghiện ma túy tại cơ sở cai nghiện ma túy công lập, trường giáo dưỡng; trang phục của lao động hợp đồng tại cơ sở cai nghiện ma túy công lập, người nghiện trong giai đoạn “Chuẩn bị tái hoà nhập cộng đồng trước khi hoàn thành cai nghiện trở về cộng đồng được đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch cai nghiện theo các mục tiêu: đánh giá tình trạng sức khỏe thể chất, tâm thần của người cai nghiện ma túy; đánh giá kết quả giáo dục, tư vấn phục hồi hành vi, nhân cách; lao động trị liệu, học nghề; đánh giá, chuẩn bị tái hòa nhập; xác định nơi cư trú của người cai nghiện ma túy để chuẩn bị thực hiện biện pháp quản lý sau cai nghiện ma túy; tư vấn các biện pháp phòng, chống tái nghiện cho người cai nghiện ma túy; kỹ năng từ chối sử dụng ma túy khi tái hòa nhập cộng đồng; cung cấp thông tin về biện pháp quản lý sau cai nghiện tại cộng đồng và các chính sách hỗ trợ vay vốn để học nghề, tạo việc làm, sản xuất kinh doanh. Phổ biến chính sách, pháp luật, thông tin về tình hình kinh tế - xã hội, thị trường lao động; tư vấn, giáo dục kỹ năng sống, trợ giúp về tâm lý, hỗ trợ các thủ tục pháp lý nhằm trang bị kiến thức cần thiết, nâng cao khả năng tự giải quyết những khó khăn, vướng mắc của người cai nghiện ma túy, các biện pháp phòng, chống tái nghiện; kỹ năng từ chối sử dụng ma túy khi tái hòa nhập cộng đồng; hướng dẫn, tư vấn, điều trị, dự phòng các bệnh lý (nếu có); hướng dẫn người cai nghiện ma túy xây dựng kế hoạch tái hòa nhập cộng đồng. Kế hoạch cần xác định mục tiêu, nguyện vọng của người cai nghiện ma túy, hoàn cảnh thực tế, các nguồn lực hỗ trợ, năng lực bản thân của người cai nghiện ma túy, chọn việc làm phù hợp với sức khỏe và kỹ năng lao động của bản thân.
Ngày 03/3/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 08/2026/QĐ-TTg về tín dụng đối với người sau cai nghiện ma túy (sau đây gọi là Quyết định số 08/2026/QĐ-TTg), có hiệu lực từ ngày 01/5/2026. Đây là chính sách có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thể hiện rõ quan điểm chỉ đạo nhân văn sâu sắc của Đảng, Nhà nước trong công tác phòng, chống tội phạm và tệ nạn ma túy.
Thực tiễn công tác cho thấy, một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tái nghiện là do người sau cai nghiện ma túy không có việc làm ổn định, thiếu điều kiện tiếp cận nguồn vốn để phát triển kinh tế. Do vậy, việc ban hành chính sách tín dụng ưu đãi nhằm tạo điều kiện cho người sau cai nghiện được vay vốn học nghề, sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm là giải pháp cốt lõi, lâu dài, góp phần giảm cầu ma túy, ổn định tình hình an ninh trật tự từ cơ sở.
Chính sách tín dụng được áp dụng đối với người sau cai nghiện ma túy và cơ sở sản xuất, kinh doanh có sử dụng lao động là người sau cai nghiện ma túy. Theo đó, chính sách này được thực hiện thông qua Ngân hàng Chính sách xã hội, với phương thức cho vay linh hoạt, phù hợp điều kiện thực tế của người vay. Người sau cai nghiện có thể vay vốn trực tiếp hoặc thông qua hộ gia đình, người giám hộ; đồng thời việc cho vay được thực hiện theo cơ chế ủy thác qua các tổ chức chính trị - xã hội nhằm bảo đảm quản lý chặt chẽ, hỗ trợ người vay trong quá trình sử dụng vốn. Đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh, việc cho vay được thực hiện trực tiếp thông qua Ngân hàng Chính sách xã hội.
Về mức vốn, người sau cai nghiện ma túy được vay tối đa 200 triệu đồng để phục vụ sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm; đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh có thể vay tối đa 2 tỷ đồng và không quá 200 triệu đồng trên một lao động là người sau cai nghiện ma túy. Đây là mức vốn tương đối phù hợp, đủ điều kiện để triển khai các mô hình sinh kế bền vững. Về chính sách ưu đãi, người vay được hưởng lãi suất ưu đãi tương đương với hộ nghèo trong từng thời kỳ, đồng thời không yêu cầu bảo đảm tiền vay đối với cá nhân người sau cai nghiện. Các quy định này tạo điều kiện thuận lợi tối đa để người sau cai nghiện tiếp cận nguồn vốn, ổn định cuộc sống và tái hòa nhập cộng đồng một cách bền vững.
II. PHÁP LUẬT CỦA NHÀ NƯỚC VỀ PHÒNG, CHỐNG MA TÚY
Hệ thống văn bản pháp luật của Nhà nước về phòng, chống ma túy được xây dựng tương đối đầy đủ, thống nhất, trọng tâm là Hiến pháp; Luật Phòng, chống ma túy năm 2025, Luật Xử lý vi phạm hành chính và các văn bản hướng dẫn thi hành.
1. Hiến pháp
Hiến pháp năm 2013: Khẳng định quyền được bảo vệ sức khỏe của công dân và trách nhiệm của Nhà nước trong phòng, chống tệ nạn xã hội, trong đó có ma túy. Cụ thể, Điều 38 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe; có nghĩa vụ thực hiện các quy định về phòng bệnh, khám bệnh, chữa bệnh”.
Bên cạnh việc ghi nhận quyền, Hiến pháp năm 2013 còn xác định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong phòng, chống các tệ nạn xã hội, thể hiện tại Điều 61 Hiến pháp năm 2013: “Nhà nước có chính sách phát triển thể dục, thể thao, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh; phòng, chống các tệ nạn xã hội”. Nội dung này có ý nghĩa quan trọng đối với công tác phòng, chống ma túy:
Ma túy được xác định là một tệ nạn xã hội đặc biệt nguy hiểm, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng, trật tự an toàn xã hội và sự phát triển bền vững của đất nước.
Việc phòng, chống ma túy không chỉ là trách nhiệm của cá nhân người nghiện, mà là trách nhiệm của Nhà nước và toàn xã hội. Đây là cơ sở hiến định cho việc áp dụng các biện pháp quản lý, can thiệp bắt buộc, như cai nghiện bắt buộc, quản lý sau cai, trong những trường hợp cần thiết nhằm bảo vệ lợi ích chung.
2. Luật Phòng, chống ma túy
Luật Phòng, chống ma túy năm 2025 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026) quy định về phòng, chống ma túy; quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy; cai nghiện ma túy; trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức trong phòng, chống ma túy; quản lý nhà nước và hợp tác quốc tế về phòng, chống ma túy. Luật Phòng, chống ma túy năm 2025 gồm 08 chương, 56 điều:
Chương I. Những quy định chung (từ Điều 1 đến Điều 5): Phạm vi điều chỉnh; Giải thích từ ngữ; Chính sách của nhà nước về phòng, chống ma túy; Nguồn tài chính cho phòng, chống ma túy; Các hành vi bị nghiêm cấm.
Chương II. Trách nhiệm phòng, chống ma túy (từ Điều 6 đến Điều 12): Trách nhiệm của cá nhân, gia đình và cộng đồng; Trách nhiệm của cơ quan nhà nước; Trách nhiệm của cơ sở giáo dục; Trách nhiệm của cơ quan báo chí, truyền thông; Trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và tổ chức khác; Cơ quan chuyên trách phòng, chống tội phạm về ma túy; Biện pháp giám sát điện tử.
Chương III. Kiểm soát các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma túy (từ Điều 13 đến Điều 22): Các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma túy; Kiểm soát hoạt động nghiên cứu, giám định, sản xuất chất ma túy, tiền chất; Kiểm soát hoạt động vận chuyển chất ma túy, tiền chất; Kiểm soát hoạt động liên quan đến thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần, thuốc tiền chất, nguyên liệu làm thuốc là dược chất gây nghiện, dược chất hướng thần, tiền chất dùng làm thuốc; Kiểm soát hoạt động liên quan đến thuốc thú y, thức ăn chăn nuôi, thức ăn thủy sản có chứa chất ma túy, tiền chất; Kiểm soát hoạt động nhập khẩu, xuất khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập, quá cảnh chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần, thuốc tiền chất, nguyên liệu làm thuốc là dược chất gây nghiện, dược chất hướng thần, tiền chất dùng làm thuốc; Lập hồ sơ, báo cáo các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma túy; Kiểm soát hoạt động hợp pháp liên quan đến ma túy vì mục đích quốc phòng, an ninh; Kiểm soát thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần, thuốc tiền chất vì mục đích sơ cứu, cấp cứu trong cuộc hành trình, du lịch quốc tế, điều trị bệnh cho bản thân người nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh; Xử lý chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần, thuốc tiền chất, nguyên liệu làm thuốc là dược chất gây nghiện, dược chất hướng thần, tiền chất dùng làm thuốc, thuốc thú y, thức ăn chăn nuôi, thức ăn thủy sản có chứa chất ma túy, tiền chất thu giữ trong vụ việc vi phạm pháp luật.
Chương IV. Quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy (từ Điều 23 đến Điều 27): Xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể; Quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy; Trách nhiệm của người sử dụng trái phép chất ma túy; Trách nhiệm của gia đình, cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy; Lập danh sách người sử dụng trái phép chất ma túy.
Chương V. Cai nghiện ma túy (từ Điều 28 đến Điều 48): Cơ sở cai nghiện ma túy; Thời hạn, quy trình cai nghiện ma túy; Hình thức cai nghiện ma túy; Xác định tình trạng nghiện ma túy; Cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng; Cai nghiện ma túy tự nguyện tại cơ sở cai nghiện ma túy tư nhân; Cai nghiện ma túy tự nguyện tại cơ sở cai nghiện ma túy công lập, trường giáo dưỡng; Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc; Cai nghiện ma túy bắt buộc cho người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi; Quản lý người nghiện ma túy trong thời gian lập hồ sơ đưa đi cai nghiện bắt buộc; Thi hành quyết định đưa đến cơ sở cai nghiện ma túy; Hoãn, miễn, tạm đình chỉ chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện ma túy; Áp dụng biện pháp cai nghiện ma túy, quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy đối với người Việt Nam bị nước ngoài trục xuất về nước do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, nghiện ma túy; người nước ngoài nghiện ma túy sinh sống tại Việt Nam; Cai nghiện ma túy cho người bị tạm giam, phạm nhân; Quản lý, hỗ trợ sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú; Biện pháp can thiệp giảm tác hại đối với người sử dụng trái phép chất ma túy và người nghiện ma túy; Trách nhiệm của gia đình người nghiện ma túy, cộng đồng; Quyền và nghĩa vụ của người cai nghiện ma túy; Quyền và nghĩa vụ của cơ sở cai nghiện ma túy; Xử lý trường hợp vi phạm nghĩa vụ của người cai nghiện ma túy, người đang bị quản lý sau cai nghiện ma túy hoặc người điều trị nghiện bằng thuốc thay thế; Lập danh sách, đưa ra khỏi danh sách người nghiện ma túy, người bị quản lý sau cai nghiện ma túy.
Chương VI. Quản lý nhà nước về phòng, chống ma túy (từ Điều 49 đến Điều 50).
Chương VII. Hợp tác quốc tế về phòng, chống ma túy (từ Điều 51 đến Điều 53): quy định về chính sách hợp tác quốc tế về phòng, chống ma túy; nguyên tắc trong hợp tác quốc tế về phòng, chống ma túy; chuyển giao hàng hóa có kiểm soát.
Chương VIII. Điều khoản thi hành (từ Điều 54 đến Điều 56).
Một số điểm mới về công tác cai nghiện quy định trong Luật Phòng, chống ma túy năm 2025:
Bổ sung quy định về việc thực hiện biện pháp giám sát điện tử theo hướng xác định cụ thể đối tượng áp dụng, bao gồm: (1) Người cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng; (2) Người bị quản lý sau cai nghiện; (3) Người điều trị nghiện ma túy bằng thuốc thay thế. Đồng thời Luật đã quy định thẩm quyền áp dụng giao Trưởng Công an xã; trách nhiệm của người bị giám sát điện tử và giao Chính phủ quy định chi tiết về thiết bị, đối tượng; quy định điều kiện, thời hạn, trình tự, thủ tục, xử lý vi phạm trong việc áp dụng biện pháp giám sát điện tử. Việc bổ sung quy định này bảo đảm phù hợp với quy định của Hiến pháp về quyền con người, đồng thời đảm bảo tính linh hoạt trong áp dụng khi cần phải thay đổi các quy định cho phù hợp với thực tiễn.
Sửa đổi, bổ sung quy định về thời hạn cai nghiện ma túy đối với người cai nghiện ma túy lần đầu là 24 tháng, đối với người cai nghiện ma túy từ lần thứ hai trở lên là 36 tháng để đảm bảo người nghiện ma túy có thời gian thực hiện đầy đủ các bước theo quy trình cai nghiện và tránh tùy nghi trong quá trình tổ chức thực hiện.
Sửa đổi, bổ sung quy định về cơ sở cai nghiện ma túy, theo đó các loại hình cơ sở cai nghiện ma túy gồm: (1) Cơ sở cai nghiện ma túy công lập thực hiện cai nghiện ma túy cho người từ đủ 18 tuổi trở lên; (2) Cơ sở cai nghiện ma túy tư nhân thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện; (3) Trường giáo dưỡng, cơ sở cai nghiện ma túy công lập đủ điều kiện thực hiện cai nghiện ma túy cho người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi.
Sửa đổi, bổ sung thẩm quyền thành lập, giải thể các cơ sở cai nghiện ma túy. Trong đó Bộ trưởng Bộ Công an quyết định thành lập, giải thể cơ sở cai nghiện ma túy công lập, trường giáo dưỡng, vì hiện nay các đơn vị này đang thuộc thẩm quyền thành lập, giải thể của Bộ trưởng Bộ Công an theo quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an. Giám đốc Công an cấp tỉnh cấp, cấp lại, đình chỉ, thu hồi giấy phép hoạt động đối với cơ sở cai nghiện ma túy tư nhân trong địa bàn quản lý, vì nhiệm vụ quản lý về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy đã chuyển về Bộ Công an.
Bổ sung quy định về việc xử lý đối với người đang trong thời hạn cai nghiện ma túy, đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy mà bị kết án phạt tù có thời hạn, sau khi chấp hành xong án phạt tù mà còn thời hạn cai nghiện ma túy hoặc thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy thì phải tiếp tục cai nghiện ma túy hoặc tiếp tục quản lý sau cai nghiện ma túy thời hạn còn lại.
Bổ sung quy định về xử lý trường hợp vi phạm nghĩa vụ của người cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng hoặc người điều trị bằng thuốc thay thế và người đang bị quản lý sau cai nghiện ma túy. Theo đó, căn cứ vào hành vi, tính chất, mức độ vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan thì sẽ có chế tài xử lý theo từng lần vi phạm hoặc áp dụng ngay biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc nếu không chấp hành việc áp dụng giám sát điện tử.
Bổ sung quy định đối với việc sử dụng kết quả lao động trị liệu của người cai nghiện ma túy để đảm bảo quyền lợi của người cai nghiện được hưởng kết quả lao động trị liệu của mình, bảo đảm các hình thức lao động trị liệu do cơ quan có thẩm quyền quyết định; kết quả lao động trị liệu được sử dụng để phục vụ cho người cai nghiện ma túy.
Sửa đổi, bổ sung quy định về cơ chế tài chính, trong đó, quy định về chính sách của nhà nước trong bảo đảm kinh phí cai nghiện ma túy tại cơ sở cai nghiện ma túy công lập, trường giáo dưỡng; bảo đảm kinh phí trong xác định tình trạng nghiện ma túy; bổ sung chính sách khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia cung cấp dịch vụ cai nghiện ma túy trong sử dụng lao động là người nghiện ma túy, người đã chấp hành xong quyết định cai nghiện ma túy.
Bổ sung quy định về thi hành quyết định đưa đến cơ sở cai nghiện ma túy và hoãn, miễn, tạm đình chỉ chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện ma túy để thực hiện thống nhất quy trình đưa đến các cơ sở cai nghiện ma túy và bảo đảm phù hợp với việc không tổ chức chính quyền, Công an cấp huyện, phù hợp với việc tiếp nhận nhiệm vụ quản lý nhà nước về cai nghiện ma túy về Bộ Công an.
Sửa đổi, bổ sung quy định về “biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” thành “biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc” và quy định biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc là biện pháp xử lý hành chính áp dụng đối với người có hành vi vi phạm quy định tại Luật Phòng, chống ma túy để cai nghiện ma túy, lao động, học văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện ma túy công lập; đồng thời, sửa đổi, bổ sung các điều có liên quan để áp dụng thống nhất các quy định tại biện pháp này tại Luật Phòng, chống ma túy.
3. Bộ luật Hình sự bổ sung Tội sử dụng trái phép chất ma túy
Ngày 25/6/2025, Quốc hội thông qua Luật 86/2025/QH15 sửa đổi Bộ luật Hình sự 2015 đã được sửa đổi năm 2017 (có hiệu lực từ 01/7/2025) tại khoản 20 Điều 1 đã bổ sung Điều 256a vào sau Điều 256 Bộ luật Hình sự 2015 về tội sử dụng trái phép chất ma túy, trong đó quy định:
Người nào sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 03 năm:
Đang trong thời hạn cai nghiện ma túy hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy;
Đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy;
Đang trong thời hạn 02 năm kể từ ngày hết thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy và trong thời hạn quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy;
Đang trong thời hạn 02 năm kể từ khi tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy.
Tái phạm về tội này thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm.
Việc Bộ luật Hình sự sửa đổi 2025 quy định thêm tội danh “Sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 256a) theo hướng áp dụng chế tài nghiêm khắc hơn để xử lý những người đang trong quá trình cai nghiện hoặc vừa kết thúc quá trình cai nghiện ma túy mà tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Qua đó nhằm giảm tình trạng sử dụng ma túy, giảm tỷ lệ tái nghiện đang ở mức rất cao và tăng hiệu quả quản lý trật tự xã hội.
4. Tổng quan về Nghị định số 163/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026
Nghị định số 163/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống ma túy là văn bản có phạm vi điều chỉnh rộng, tích hợp nhiều nhóm quan hệ pháp luật có liên quan trực tiếp đến phòng ngừa, đấu tranh, kiểm soát, quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy, cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy. Nghị định có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2026, đồng thời tạo lập khuôn khổ pháp lý mới để tổ chức thi hành Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15 trong điều kiện tổ chức bộ máy, phương thức quản lý và yêu cầu chuyển đổi số đang có nhiều thay đổi.
4.1. Phạm vi điều chỉnh: Điều 1 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP xác định phạm vi điều chỉnh rất rộng. Có thể hệ thống hóa thành năm nhóm lớn sau đây:
Công tác phối hợp của các cơ quan chuyên trách phòng, chống tội phạm về ma túy.
Biện pháp giám sát điện tử.
Kiểm soát các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma túy.
Công tác quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy.
Công tác cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
4.2. Kết cấu của Nghị định: Nghị định số 163/2026/NĐ-CP gồm 09 chương, 152 điều và hệ thống phụ lục, biểu mẫu kèm theo. Kết cấu được thiết kế theo logic từ quy định chung, các hoạt động phòng ngừa và kiểm soát, quản lý đối tượng, cai nghiện, quản lý sau cai, trách nhiệm tổ chức thực hiện đến điều khoản thi hành.
III. CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG MA TÚY TRONG HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC, ĐÀO TẠO
1. Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước

1.1. Văn bản của Bộ Chính trị, Quốc hội, Chính phủ, Bộ Công an
Kết luận số 132-KL/TW ngày 18/3/2025 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị 36-CT/TW, ngày 16/8/2019 của Bộ Chính trị về tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy.
Nghị quyết số 163/2024/QH15 ngày 27/11/2024 của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy đến năm 2030.
Nghị quyết số 50/NQ-CP ngày 13/3/2025 của Chính phủ về ban hành Kế hoạch triển khai Nghị quyết số 163/2024/QH15 ngày 27 tháng 11 năm 2024 của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy đến năm 2030.
Nghị quyết số 93/NQ-CP ngày 16/4/2025 của Chính phủ về ban hành Kế hoạch thực hiện Kết luận số 132-KL/TW ngày 18/3/2025 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị 36-CT/TW ngày 16/8/2019 của Bộ Chính trị về tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy.
Quyết định số 7619/QĐ-BCA ngày 08/9/2025 của Bộ trưởng Bộ Công an về phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy đến năm 2030.
Chương trình phối hợp số 03/CTrPH-BCA-BGDĐT ngày 22/01/2024 của Bộ Công an và Bộ Giáo dục và Đào tạo về tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật phòng, chống ma túy trong các cơ sở giáo dục giai đoạn 2024-2030.
1.2. Văn bản của Ban Thường vụ Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố Huế
Kế hoạch số 267-KH/TU, ngày 23/4/2025 của Ban Thường vụ Thành ủy Huế về thực hiện Kết luận số 132-KL/TW, ngày 18/3/2025 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị 36-CT/TW, ngày 16/8/2019 của Bộ Chính trị về tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy.
Chỉ thị số 70-CT/TU, ngày 29/8/2025 của Ban Thường vụ Thành ủy Huế về xây dựng xã, phường không ma túy giai đoạn 2025 - 2030.
Nghị quyết số 03-NQ/TU ngày 11/02/2026 của Ban Thường vụ Thành ủy Huế về xây dựng thành phố Huế không ma túy.
Kế hoạch số 222/KH-UBND ngày 17/5/2025 của UBND thành phố Huế thực hiện Nghị quyết số 93/NQ-CP ngày 16/4/2025 của Chính phủ về ban hành Kế hoạch thực hiện Kết luận số 132-KL/TW, ngày 18/3/2025 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị 36-CT/TW, ngày 16/8/2019 của Bộ Chính trị về tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy.
Kế hoạch số 177/KH-UBND ngày 21/4/2025 của UBND thành phố Huế thực hiện Nghị quyết số 50/NQ-CP ngày 13/3/2025 của Chính phủ về ban hành Kế hoạch triển khai Nghị quyết số 163/2024/QH15 ngày 27/11/2024 của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy đến năm 2030.
Kế hoạch số 49/KH-UBND ngày 26/01/2026 của UBND thành phố triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy đến năm 2030.
Kế hoạch số 361/KH-UBND ngày 26/8/2025 của UBND thành phố Huế về xây dựng xã, phường không ma túy giai đoạn 2025 - 2030.
Quyết định số 852/QĐ-UBND ngày 12/3/2026 của Chủ tịch UBND thành phố ban hành Đề án xây dựng “xã, phường không ma túy giai đoạn 2026 - 2030”.
3. Nhiệm vụ trọng tâm về phòng, chống ma túy trong hoạt động giáo dục, đào tạo tại thành phố Huế
3.1. Mỗi cán bộ, đảng viên phải gương mẫu chấp hành và vận động gia đình, người thân chấp hành nghiêm quy định của pháp luật về phòng, chống và kiểm soát ma tuý; xem xét xử lý kỷ luật nghiêm nếu để xảy ra tình hình tội phạm và tệ nạn ma túy diễn biến phức tạp, kéo dài tại lĩnh vực, địa bàn được giao phụ trách, quản lý; lấy hiệu quả công tác phòng, chống ma túy là một tiêu chí quan trọng trong đánh giá chất lượng công tác hằng năm của tập thể, cá nhân.
3.2. Tổ chức cho 100% cán bộ, công chức, viên chức ký cam kết chấp hành nghiêm quy định của pháp luật về phòng, chống và kiểm soát ma tuý; vận động người thân và xã hội để nâng cao ý thức toàn dân trong phòng, chống và kiểm soát ma tuý, phát hiện tố giác người nghiện, người sử dụng ma túy; thực hiện xây dựng xã, phường không ma túy. Tăng cường công tác quản lý cán bộ, phòng ngừa, phát hiện, xử lý nghiêm đảng viên, cán bộ, công nhân, viên chức, người lao động vi phạm pháp luật về ma túy; thường xuyên rà soát đối với những người có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy, siết chặt khâu tuyển dụng, quản lý và đánh giá cán bộ, kiên quyết không để ma túy thâm nhập vào cơ quan nhà nước và cơ sở giáo dục.
3.3. Tập trung đồng bộ các giải pháp để xây dựng và vận hành thực chất, hiệu quả mô hình “Trường học không ma túy” tại các trường từ bậc Trung học cơ sở trở lên; đảm bảo 100% trường học trên địa bàn duy trì đạt tiêu chí “Trường học không có ma tuý”.
3.4. Triển khai công tác tuyên truyền, giáo dục phòng, chống ma túy trong các cơ sở giáo dục, phối hợp với các đơn vị thuộc Công an thành phố tổ chức tuyên truyền, tập huấn, hướng dẫn kỹ năng về phòng, chống ma túy cho cán bộ, giáo viên, sinh viên, học sinh. Bảo đảm mỗi học kỳ tổ chức ít nhất 1 buổi/cơ sở (hoặc lồng ghép nội dung trong buổi hoạt động đầu khóa, ngoại khóa, tiết sinh hoạt lớp,...); tổ chức các cuộc thi về phòng, chống ma túy trong học sinh, sinh viên với hình thức sân khấu hóa, đảm bảo ít nhất 1 cuộc thi hằng năm.
3.5. Lắp đặt các Pano, áp phích để tuyên truyền phòng, chống ma túy, tập trung về tác hại của việc sử dụng trái phép chất ma túy tại các cơ sở giáo dục, phát triển chuyên trang, chuyên mục tuyên truyền trực tuyến trên cổng thông tin điện tử của ngành và các trường học.
3.6. Chủ động rà soát, phát hiện học sinh, sinh viên liên quan đến tội phạm và tệ nạn ma túy để kịp thời phối hợp với các cơ quan có liên quan có giải pháp giáo dục, quản lý và xử lý theo quy định.
3.7. Tập trung các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác hướng nghiệp sớm cho học sinh cấp Trung học cơ sở; đẩy mạnh công tác tư vấn học nghề và hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Xem đây là nền tảng giúp phòng ngừa tình trạng học sinh bỏ học sớm, không nghề nghiệp, dễ phát sinh hành vi vi phạm pháp luật.
3.8. Đề ra giải pháp xây dựng môi trường giáo dục, học tập an toàn, văn minh trong các cơ sở giáo dục, khu ký túc xá, khu nhà trọ ngoại trú của học sinh, sinh viên và khu vực xung quanh các cơ sở giáo dục để phòng ngừa tội phạm và tệ nạn ma túy xâm nhập vào học sinh, sinh viên.
3.9. Chủ trì, phối hợp với Công an thành phố xây dựng mô hình cung cấp, tiếp nhận thông tin tố giác về tệ nạn ma túy liên quan đến học sinh, sinh viên trong các cơ sở giáo dục, kịp thời phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến ma túy tại các cơ sở giáo dục trên địa bàn, phòng ngừa, ngăn chặn ma túy thâm nhập vào trường học.
3.10. Tổ chức rà soát, kiến nghị đề xuất cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện chương trình giảng dạy, đưa nội dung giáo dục pháp luật về phòng, chống ma túy vào chương trình giáo dục chính khóa, ngoại khóa dưới hình thức tích hợp, lồng ghép vào nội dung một số môn học và hoạt động giáo dục ở tất cả các cấp; tăng thời lượng thực hành, trải nghiệm thực tế (thăm quan các mô hình phòng, chống ma túy hiệu quả; các cơ sở cai nghiện ma túy...). Rà soát, xây dựng bộ tài liệu giáo dục kỹ năng phòng, chống ma túy phù hợp với đặc điểm tâm, sinh lý của học sinh, sinh viên, học viên các cấp học; thiết kế các bài giảng điện tử về kỹ năng phòng chống ma túy cho học sinh, sinh viên, học viên; triển khai các bộ tài liệu về kỹ năng nhận biết, phòng chống ma túy cho học sinh, sinh viên, học viên.


 

 
THÔNG TIN LIÊN HỆ
Phòng Công tác sinh viên, Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế

Thầy Phạm Trung
Thực hiện công tác Tuyên truyền, phổ biến pháp luật

0901901797

0901901797

ptrung@huflis.edu.vn

Tầng 1, tòa nhà Hiệu bộ

57 Nguyễn Khoa Chiêm, An Cựu, Huế, Việt Nam